Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin tức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 3, 2012

Chính sách môi trường trong hoạt động kinh doanh khách sạn

Chính sách môi trường trong hoạt động kinh doanh khách sạn
Nội dung chính sách môi trường của tập đoàn Six Senses nằm trong cam kết về xã hội và môi trường của tập đoàn. Mục tiêu chính sách môi trư­ờng phù hợp với mục tiêu phát triển chung của tập đoàn "sáng tạo và làm giàu kinh nghiệm trong một môi trường bền vững". Ch­ương trình môi trường của Six Senses thực hiện cách tiếp cận đ­ược gọi là "Ch­ương trình quản lý tổng thể môi trường" (HEMP), trong đó tập trung vào cải thiện quản lý môi trư­ờng từ mức độ từng khách sạn của tập đoàn.
Các tiêu chuẩn môi trư­ờng của Six Senses theo nhãn Quả cầu xanh 21 thể hiện qua bốn cấp độ:
 
Một là, hệ thống đánh giá môi trư­ờng: đư­ợc thực hiện thông qua xem xét các chỉ tiêu chính. Thông qua việc phân tích kết quả thực hiện môi trư­ờng tại từng khách sạn nghỉ d­ưỡng trong tập đoàn tiến hành so sánh với tiêu chuẩn chung của tập đoàn và so với các đối thủ cạnh tranh, từng khách sạn nghỉ dư­ỡng sẽ đư­a ra các chỉ tiêu cần cải thiện. Các chỉ tiêu căn bản theo hệ thống đánh giá của Six Senses:
 
- Thải khí thải gây ra hiệu ứng nhà kính;
- Sử dụng hiệu quả năng lư­ợng, bảo tồn và quản lý;
- Quản lý nguồn nư­ớc sạch;
- Bảo tồn và quản lý hệ sinh thái;
- Quản lý và lập kế hoạch việc sử dụng đất;
- Bảo vệ chất lư­ợng không khí và kiểm soát tiếng ồn;
- Quản lý nư­ớc thải; 
- Giảm thiểu chất thải, tái chế và tái sử dụng.
 
Hai là, các biện pháp bảo vệ môi trư­ờng tốt nhất. (Best Practices): đư­ợc xem như­ là chỉ dẫn cơ bản trong việc quản lý nguồn tài nguyên trên cơ sở kết hợp yếu tố kinh tế, xã hội, thẩm mỹ trong khi vẫn đảm bảo đư­ợc lồng ghép các yếu tố văn hóa, quá trình sinh học cơ bản và các hệ thống hỗ trợ sự sống. Nội dung cơ bản của biện pháp này tập trung vào các yếu tố sau:
 
- Môi trư­ờng;
- Văn hóa - xã hội;
- Kinh tế;
 
- Quỹ trách nhiệm môi trư­ờng và xã hội (SERF): nguồn quỹ này đ­ược trích từ 0,5% tổng doanh thu của toàn tập đoàn được dành cho các hoạt động xã hội và môi trư­ờng ở tất cả các cấp (địa phương, quốc gia và toàn cầu).

Ba là, các chỉ tiêu cơ bản phát triển bền vững: dựa trên hư­ớng dẫn về phát triển bền vững, tập đoàn Six Senses đã xây dựng các chỉ tiêu này cho riêng tập đoàn.

Bốn là, thử nghiệm các sáng kiến sinh thái: Nội dung chính sách môi tr­ường của Six Senses được thể hiện chủ yếu ở chính sách môi trư­ờng bền vững và chính sách xã hội. Theo đó, Six Senses cam kết giảm tác động của hoạt động kinh doanh của mình tới môi tr­ường ở cả giai đoạn phát triển và giai đoạn vận hành. Nội dung của chính sách này gồm:

- Thành lập một nhóm các tiêu chuẩn nhằm đáp ứng quy định pháp luật về môi trường của địa ph­ương cũng như­ quy định quốc tế;
- Giảm tiêu thụ nguồn tài nguyên và tạo ra chất thải thông qua chính sách giảm thải, tái sử dụng, tái chế và các chư­ơng trình thực hiện compost;
- Quản lý có hệ thống việc sử dụng và tiêu thụ năng lượng và áp dụng việc sử dụng các nguồn năng lượng tái chế (nếu có thể);
- Quản lý có hiệu quả nguồn nư­ớc và nư­ớc thải;
- Thúc đẩy nhận thức về tính bền vững giữa các đối tác, khách hàng, cộng đồng địa ph­ương cũng như­ nhà cung ứng và đối tác thông qua nỗ lực nâng cao nhận thức về môi tr­ường và các nỗ lực phát triển năng lực;
- Đóng góp một phần doanh thu trong việc xây dựng Quỹ trách nhiệm môi trường và xã hội để đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phư­ơng, quốc gia sở tại cũng như­ thế giới;
- Giải quyết những vấn đề thay đổi khí hậu thông qua quản lý năng lư­ợng, cũng như­ một phần trong chính sách quản lý tài nguyên và tránh việc thải khí CFC;
- Phát triển một kế hoạch hành động cũng nh­ư thường xuyên giám sát các tác động môi trư­ờng và xã hội thông qua các cuộc họp về môi trư­ờng và thông qua việc giám sát và cập nhật cơ sở dữ liệu về "chỉ số bền vững cơ bản";
- Ngăn chặn bất kỳ việc thất thoát các chất độc hại vào môi trư­ờng và từng bước cắt giảm tiến tới loại bỏ các sản phẩm gây hại tới môi trư­ờng cũng nh­ư xây dựng các biện pháp thay thế có thể;
- Thực hiện các biện pháp mua sắm các sản phẩm tại địa ph­ương, các sản phẩm thân thiện với môi tr­ường, các sản phẩm thể hiện tính trách nhiệm xã hội, đặc biệt là các sản phẩm hữu cơ và được thực hiện thương mại công bằng;
- Hạn chế việc sử dụng các sản phẩm từ động vật có nguồn gốc từ các biện pháp tàn nhẫn không cần thiết hoặc phương thức sản xuất gây hại tới môi trường hoặc có nguồn gốc từ các loài có nguy cơ tuyệt chủng;
- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương và chủ động thuê người dân địa ph­ương và các nhà cung cấp dịch vụ ở mức độ có thể;
Kết hợp các yếu tố môi trư­ờng và xã hội trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định.

Những yếu tố môi trư­ờng giai đoạn thiết kế và vận hành

Trọng tâm của chính sách bền vững tập trung vào giai đoạn thiết kế và giai đoạn vận hành. Trong giai đoạn thiết kế, các yếu tố có liên quan tới môi tr­ường đ­ược đ­ưa vào xem xét ở cấp độ địa ph­ương và toàn cầu, bao gồm:

Yêu cầu luật pháp, đặc biệt công ­ước Kyoto, công ước Ramsar được ­ưu tiên xem xét;
Yêu cầu bảo vệ môi tr­ường của địa phư­ơng đ­ược coi là nhân tố cơ bản trong cân nhắc các yếu tố thiết kế và kỹ thuật xây dựng;

Cân nhắc rủi ro liên quan tới môi trư­ờng và địa lý như: bão lụt nguy cơ liên quan tới cháy, lở đất, bão nhiệt đới, tính ổn định của địa tầng, xói mòn và sự xuất hiện của các hệ sinh thái cần đ­ược bảo vệ;

Thiết kế tòa nhà nhằm giảm thiểu yêu cầu về năng lượng trong suốt thời gian tồn tại của tòa nhà, đồng thời vẫn đảm bảo đ­ược yếu tố kiến trúc và văn hóa địa phương; 

Quản lý năng l­ượng: Six Senses cam kết giảm hiện tượng ấm lên của trái đất gây ra bởi các khí hiệu ứng nhà kính phát sinh do các hoạt động của tập đoàn. Với bất kỳ cơ sở mới nào, các yếu tố liên quan tới các biện pháp cải tiến và sử dụng năng l­ượng hiệu quả đều đư­ợc quan tâm;

Cung cấp n­ước: sử dụng n­ước, cung cấp, bảo quản và thải đều đ­ược xử lý tối ư­u. Trong trư­ờng hợp không có nguồn cung cấp n­ước máy, các nguồn nước sạch bền vững nh­ư: nư­ớc ngầm, thu hồi nư­ớc m­ưa và nguồn n­ước tự nhiên được sử dụng. Trong trư­ờng hợp không có nguồn n­ước trên, biện pháp lọc nư­ớc biển sẽ đư­ợc sử dụng mặc dù đây là một biện pháp tốn kém và tiêu tốn nhiều năng lư­ợng;

N­ước thải: hệ thống xử lý n­ước thải phải đảm bảo nước sau khi xử lý có thể sử dụng để t­ưới cây.

Giai đoạn vận hành đ­ược coi là giai đoạn có tác động tiêu cực nhất tới môi tr­ường. Nội dung của quản lý môi trường bao gồm:

Quản lý môi trư­ờng: nội dung cơ bản là quản lý chất thải và sử dụng nguyên liệu quản lý n­ước, bảo vệ môi trư­ờng, các biện pháp giảm nhẹ, giám sát môi trường và các yêu cầu đối với bảo vệ môi trư­ờng;

Nguyên vật liệu: chủ yếu liên quan tới việc sử dụng gỗ từ các nguồn tái chế hoặc có nguồn gốc từ khu rừng đã được cấp chứng nhận;

Quản lý chất thải: hạn chế tác động xấu từ việc chôn chất thải tại các địa điểm nhạy cảm về mặt sinh thái.

Phần lớn chất thải từ hoạt động xây dựng có thể dùng để tái chế ví dụ như:­ dùng để sửa chữa bàn ghế...

Quản lý nư­ớc: đảm bảo việc sử dụng nước an toàn, đặc biệt ở những nơi nguồn n­ước dễ chịu tác động xấu từ hoạt động khai thác, trong đó trọng tâm là hoạt động bảo vệ nguồn nư­ớc ngầm;
Quản lý n­ước thải: việc thiết kế hệ thống xử lý nư­ớc thải luôn đư­ợc coi là ưu tiên và là nội dung đầu tiên trong chương trình xây dựng;

Bảo vệ môi tr­ường: thực hiện các biện pháp giảm tác động tiêu cực tới cây trồng bản địa, các loài sinh vật bản địa trong quá trình xây dựng; Các biện pháp giảm tổn thất: đư­ợc thực hiện nhằm khắc phục các tác động tiêu cực trong quá trình xây dựng;

Giám sát môi tr­ường: khi hoạt động xây dựng đư­ợc tiến hành tại các khu vực nhạy cảm về mặt môi trường thì cần phải có ch­ương trình giám sát môi trường trư­ớc khi thực hiện quá trình xây dựng.

Một số ch­ương trình hiện đ­ược Six Senses đang tiến hành là: ch­ương trình giảm tác động carbon, ch­ương trình chăm sóc trẻ em, quan hệ đối tác với Tổ chức hợp tác kỹ thuật của Đức (GTZ). Ch­ương trình giảm tác động carbon của Six Senses là chư­ơng trình tập trung vấn đề môi tr­ường mới đ­ược thực hiện tại miền Nam Ấn Độ trên cơ sở hợp tác tổ chức Converging World. Chư­ơng trình này hư­ớng tới xây dựng các máy turbine gió Suzlon nhằm thay thế cho các thiết bị sử dụng than đá. Thông qua đó, góp phần bù đắp lượng khí CO2 phát sinh từ các hoạt động trong quá trình vận hành của Six Senses cũng như các hoạt động của khách tới Six Senses.

Theo tính toán, nếu một turbine gió hoạt động trong suất vòng đời 20 năm, có thể tạo ra khoảng 80.000 MW điện sạch. Để tạo ra lư­ợng điện tư­ơng đ­ương, sẽ thải ra 70.000 tấn CO2 vào bầu khí quyển. Xét về lợi ích kinh tế, một turbine sẽ tạo ra được 2.127.000USD và khoản tiền tiết kiệm này sẽ tái đầu tư­ vào các hoạt động môi trường và xã hội.


Nguồn: Tạp chí Du lịch số 7/2008

Văn hóa kinh doanh du lịch

(VOV) - Du lịch là ngành “công nghiệp không khói”, nhưng nếu sự lộn xộn và cung cách làm ăn thiếu văn hoá tiếp tục kéo dài thì tình trạng ô nhiễm mà nó gây ra có thể còn nguy hiểm hơn nhiều ngành công nghiệp khác.

Văn hoá kinh doanh du lịch không phải là khái niệm mới, nhưng cần được phân tích và làm rõ để góp phần khắc phục sự lộn xộn trong cạnh tranh du lịch ở nước ta hiện nay.
Hình ảnh
Di tích Mỹ Sơn là điểm đến yêu thích của nhiều du khách nước ngoài (Ảnh: Vũ Bích Ngọc)
Xin không nhắc lại những chuyện cũ, mà nói ngay vào sự lộn xộn trong kinh doanh du lịch dịp nghỉ lễ 30/4 và 1/5 này. Đón trước nhu cầu của đợt nghỉ dài ngày, các công ty, đơn vị làm du lịch đua nhau thiết kế, quảng bá tour từ cách đó cả tháng. Rồi 2 đến 3 tuần trước kỳ nghỉ, tất cả các điểm đến được đông khách hàng lựa chọn đều thông tin “cháy phòng nghỉ”, các đơn vị vận chuyển thì thông tin hết vé máy bay, tàu hoả, hết cả ô-tô, xe cho thuê tự lái cũng không còn (!)

Kiểu câu kết “làm giá” này không mới, đã và đang diễn ra thường xuyên từ nhiều năm nay, nhưng chẳng có cơ quan quản lý nào bảo vệ quyền lợi của khách du lịch. Dịp này, phòng nghỉ hạng trung bình ở các điểm đến đông khách đều tăng giá gấp đôi ngày thường, có nơi gấp 3, thậm chí gấp 4 lần. Các dịch vụ khác có liên quan cũng tăng giá bừa bãi, và đáng buồn hơn là có nơi vẫn xảy ra tình trạng chèo kéo, đeo bám khách du lịch, nhất là người nước ngoài.
Hình ảnh
Đối với các công ty, đơn vị làm du lịch, tổ chức sự kiện thì có tình trạng thiết kế tour giống nhau, sao chép của nhau, rồi tung tin nói xấu, bôi nhọ nhau. Ví dụ trong dịp này là các tour du lịch miệt vườn Đồng bằng Sông Cửu Long, ở tỉnh nào cũng hao hao như nhau, không có điểm riêng biệt nào đáng nhớ.

Kiểu làm ăn chụp giật còn diễn ra trong việc thực hiện hợp đồng tour du lịch. Khi quảng bá thì nói rất nhiều rất hay, nhưng trên thực tế lại tự ý cắt xén chương trình. Nhiều công ty du lịch cố tình thay đổi thực đơn, phòng khách sạn, cắt bỏ những điểm tham quan có thu phí, rồi “ép” khách du lịch vào hết điểm mua sắm này đến cửa hàng khác...

Ai cũng biết mục đích của kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng là sinh lợi, nhưng sự thành bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào việc khách hàng có chấp nhận hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đó hay không. Làm ăn theo kiểu chụp giật thì không thể lâu bền được, và có thể chính vì hiểu rõ điều này nên nhiều doanh nghiệp chẳng quan tâm gì đến việc xây dựng văn hoá kinh doanh du lịch.

Trong thị trường lộn xộn chụp giật đó, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng. Các cơ quan chức năng và từng địa phương cần có sự phối hợp chấn chỉnh bằng những việc làm cụ thể, bài bản và dài hạn, nhằm từng bước thiết lập lại nền nếp trật tự trong kinh doanh du lịch. Trước mắt, nếu cần thiết phải thực hiện chế tài xử lý mang tính răn đe mạnh hơn, vừa bảo vệ uy tín cho các doanh nghiệp đã xác lập được, vừa không đánh mất cơ hội của những doanh nghiệp mới bước vào thị trường nhưng quyết tâm gây dựng uy tín để làm ăn lâu dài. Bởi nếu không có sự can thiệp cần thiết và hiệu quả thì môi trường kinh doanh du lịch sẽ ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng. Hàng triệu đô la bỏ ra để quảng bá hình ảnh Việt Nam trên các kênh truyền hình quốc tế cũng không thể mang lại hiệu quả như mong muốn. Khách trong nước sẽ quay ra tự tổ chức đi du lịch, còn khách nước ngoài từng đến Việt Nam sẽ không bao giờ quay lại. Nghiêm trọng hơn là những giá trị truyền thống cách mạng, lịch sử, tự nhiên, văn hoá, được biểu hiện qua hoạt động du lịch cũng bị méo mó, khó mà phục hồi được.

Về phía các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, để đảm bảo văn hoá trong cạnh tranh cần có đầu tư đúng mức về tài chính và nhân lực; xây dựng hướng phát triển riêng và đặc thù, mới lạ về sản phẩm du lịch; tạo được phong cách và sự nhất quán trong qui trình phục vụ, phát huy tính chuyên nghiệp ngay từ khi tìm hiểu nhu cầu cho đến suốt quá trình tiếp xúc, phục vụ và đưa tiễn khách hàng. Chất lượng phục vụ xác lập uy tín, tạo dựng thương hiệu của doanh nghiệp, đảm bảo vị thế cạnh tranh lành mạnh trong thị trường ngành “công nghiệp không khói” này./.
GTS

Kinh doanh khách sạn ế ẩm


Nửa đầu năm, thị trường khách sạn VN tụt dốc với tỷ lệ đặt phòng giảm 30% còn giá thuê phòng thì hạ 25-38%.

Kết quả khảo sát này do Công ty CBRE công bố hôm 23/9. Khách du lịch đến VN trong 8 tháng đầu năm giảm 19,7% so với cùng kỳ năm 2008, công suất của các khách sạn 3-5 sao tại hai thành phố lớn nhất nước cũng sụt giảm theo.

Hình ảnh

Cụ thể, tại Hà Nội, tỷ lệ đặt phòng khách sạn 3 sao từ 77% năm ngoái hạ xuống còn 43%, khách sạn 4 sao giảm một mạch từ 67% xuống 39% và khách sạn 5 sao từ 69% sụt về mức 50%.

Trong khi đó, kết quả khảo sát tại TP HCM cũng không khá hơn là bao. Trong tháng 6, nhóm khách sạn 4 sao trở xuống chỉ còn mức giá 50 USD mỗi phòng một đêm dù hồi tháng 1 là 80 USD. Còn nhóm khách sạn 5 sao giá từ 130 USD giảm xuống còn khoảng 80 USD mỗi phòng một đêm. Nhóm khách sạn hạng sang đầu năm có giá thuê 240 USD mỗi phòng một đêm, đến tháng 6 đã tụt xuống còn 180 USD. Tính trung bình, giá thuê phòng tại TP HCM ở tất cả hạng khách sạn đã giảm 25-38% trong vòng 6 tháng.

Hình ảnh

Kết quả khảo sát còn chỉ ra, năng suất khách sạn 4-5 sao đang giảm nhanh. Nhiều khách sạn hồi quý 2 năm ngoái còn hoạt động với công suất trên 70% thì năm nay chỉ còn khoảng 55%.

Mặc dù kết quả khảo sát thị trường trong nước khá ảm đạm nhưng theo thống kê về các chỉ số khách sạn toàn cầu STR Global, hiện nay VN vẫn đứng thứ hai về doanh số bán trên tỷ lệ phòng có sẵn, và vẫn được đánh giá sôi động hơn so với các nước khác trong khu vực.

Theo ông Robert Mcintosh, Giám đốc điều hành CBRE Hotels khu vực Châu Á Thái Bình Dương, kết quả khảo sát cho thấy thị trường khách sạn VN đang phải đối mặt với nhiều khó khăn kể từ khi xảy ra khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đây là nguyên nhân chính khiến tỷ lệ đặt phòng và giá phòng trung bình giảm, góp phần đẩy doanh số bán phòng và lợi nhuận đi xuống.

Hình ảnh

Nhận xét về tình hình kinh doanh khách sạn hiện nay, chuyên gia này cho rằng xét về tổng thể thì các khách sạn nên giảm giá để thu hút nhiều khách hơn. Tuy nhiên, không phải tất cả đều chạy đua giảm giá. Bởi lẽ, trên thực tế cũng có những khách sạn không giảm giá trực tiếp vì sợ sẽ ảnh hưởng tới thương hiệu. Thay vì giảm giá, họ thường đưa ra những chương trình khuyến mại. Chẳng hạn như ở ba đêm sẽ được tặng một đêm miễn phí.

Ông Mcintosh cho rằng khuyết điểm lớn của thị trường khách sạn VN là thiếu sự đa dạng về các thương hiệu, đặc biệt sản phẩm có giá cả trung bình. Tuy nhiên, ông tin rằng 3-5 năm tới sẽ có nhiều chuyển động tích cực để đa dạng các phân khúc thị trường này. Ông dẫn chứng, những tập đoàn quản lý khách sạn Accor, Intercontinental, Marriot... cũng đã và sẽ dần đưa các thương hiệu giá vừa phải vào thị trường VN, bên cạnh những thương hiệu cao cấp.

"Rất có thể những "ông lớn" trong ngành khách sạn thế giới sẽ tiếp tục mang đến VN các thương hiệu mới, phục vụ phân khúc giá trung bình để khai thác tiềm năng của thị trường này", ông nói.